Cúng giếng (tạ giếng) là lễ nhỏ nhiều gia đình có giếng nước làm vào dịp cuối năm hoặc đầu năm, để cảm ơn nguồn nước đã nuôi cả nhà; ở nhiều làng Bắc Bộ, giếng làng trước đình còn có lễ riêng trong hội làng. Mâm lễ cúng giếng của một gia đình thường rất gọn: hương, hoa, đĩa xôi hoặc oản, trầu cau, chén rượu, đĩa quả, đặt cạnh thành giếng.
Ngày nay giếng khơi đã ít đi, nhiều nhà dùng nước máy hoặc giếng khoan. Dù vậy, những nhà còn giếng cũ, nhất là ở nông thôn và phố cổ, vẫn giữ tục này. Bài nói vì sao có tục cúng giếng, mâm lễ thường thấy ở nhà và ở làng, và những việc thực tế khi phải nạo vét hay lấp một chiếc giếng đã gắn với nhiều đời.
Vì sao người Việt cúng giếng
Ở làng quê ngày trước, giếng là nguồn nước ăn của cả nhà, có khi của cả xóm. Nước giếng dùng để nấu cơm, pha trà, tắm rửa, và cũng là thứ nước được múc lên đặt trên bàn thờ. Một chiếc giếng trong, mát, không cạn mùa khô là của quý, được đào và giữ qua nhiều đời. Vì thế, cảm ơn nguồn nước bằng một nén hương mỗi dịp năm mới là điều tự nhiên với người làm nông.
Theo quan niệm dân gian, mỗi giếng có thần coi giữ, người Bắc hay gọi là thần Giếng, có nơi gắn với Long vương hoặc Thuỷ thần. Cách gọi khác nhau theo vùng, và nhiều nhà không gọi tên cụ thể, chỉ nói “thắp hương ở giếng”. Điểm chung là tấm lòng biết ơn với thứ mình dùng hằng ngày, giống như cúng bếp, cúng đất.
Ở làng, giếng chung trước đình thường được coi là giếng của cả cộng đồng. Nhiều làng Bắc Bộ có giếng hình bán nguyệt trước sân đình, vừa để lấy nước, vừa là một phần của cảnh quan đình làng. Lễ ở giếng làng do làng lo, thường gắn với ngày hội; còn lễ ở giếng nhà là việc riêng của từng gia đình.
Những dịp cúng giếng thường gặp
Không có lịch chung cho mọi nhà. Bảng dưới gom những dịp hay được nhắc, ở cả nhà riêng và ở làng.
| Dịp | Ai làm | Thời điểm thường gặp | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Tạ giếng cuối năm | Gia đình có giếng | Chiều 30 Tết hoặc mấy ngày cuối tháng Chạp | Nhiều nhà làm cùng lúc dọn dẹp, tẩy rửa thành giếng |
| Thắp hương giếng đầu năm | Gia đình có giếng | Sáng mùng một hoặc trong ba ngày Tết | Có nhà đậy nắp giếng ba ngày Tết, sau đó mới múc |
| Lễ ở giếng làng | Ban tổ chức hội làng | Trong ngày hội làng, thường đầu xuân | Có làng rước nước từ giếng hoặc từ sông về đình |
| Trước khi nạo vét | Gia đình | Trước ngày thuê thợ | Lễ nhỏ, chủ yếu là báo và cẩn thận |
| Trước khi lấp hoặc thôi dùng | Gia đình | Trước khi làm | Nhiều nhà coi là việc cần bàn kỹ trong nhà |
Ở những khu phố cổ còn giữ giếng chung, như Hội An, nhiều người dân quen thắp hương ở giếng vào dịp đầu năm. Cách làm mỗi nơi một khác; khi sống ở đó, hỏi hàng xóm lâu năm là cách tốt nhất.
Mâm lễ cúng giếng ở nhà gồm những gì
Lễ ở giếng nhà là lễ nhỏ. Nhiều gia đình chỉ dùng một khay, đặt lên thành giếng hoặc lên chiếc ghế đẩu sát bên:
- Hương và nến: một bó hương nhỏ, một cây nến hoặc ngọn đèn. Ngoài trời có gió nên chắn nến bằng ống thuỷ tinh hoặc bỏ nến.
- Hoa: một bông hoặc một bình nhỏ, thường là hoa cúc, hoa huệ, hoa đào ngày Tết.
- Xôi hoặc oản: một đĩa xôi trắng, xôi gấc hoặc vài chiếc oản.
- Trầu cau: một lá trầu, một quả cau, hoặc một miếng trầu têm sẵn.
- Rượu: một chén rượu trắng nhỏ.
- Đĩa quả: vài quả quýt, một nải chuối, quả theo mùa.
- Gạo, muối (tuỳ nhà): một chén nhỏ, có nhà rắc ít muối quanh miệng giếng sau lễ.
Có nhà thêm vàng mã nhỏ theo tập quán; nếu dùng thì vừa đủ và hoá ở chỗ xa giếng, tránh tro rơi xuống nước. Phần lớn nhà ngày nay chỉ giữ hương, hoa, xôi và quả.
Đặt lễ, thắp hương ở giếng: vài điều nhiều nhà giữ
Giữ giếng sạch trước khi đặt lễ. Nhiều nhà nhân dịp cuối năm quét sạch quanh giếng, cọ rêu thành giếng, thay dây gàu, sửa nắp đậy. Việc dọn dẹp này là một phần của lễ, có khi còn quan trọng hơn mâm cúng.
Không để gì rơi xuống nước. Đặt khay vững, xa mép trong của thành giếng; hương cắm vào bát hương nhỏ hoặc chén gạo, không cắm thẳng vào khe gạch. Tro hương, sáp nến, lá hoa rơi xuống giếng làm bẩn nguồn nước.
Đậy nắp giếng ba ngày Tết. Một số nhà Bắc Bộ có tục đậy nắp giếng từ chiều 30 đến hết mùng ba, giải thích theo nhiều cách: để giếng “nghỉ”, hoặc đơn giản để nước không bị lá rác trong mấy ngày nhà vắng người dọn. Nhà nào cần nước thì vẫn mở dùng, không ai coi là điều cấm.
Một người đại diện là đủ. Lễ giếng thường do người chủ nhà hoặc người hay ra giếng nhất làm, khấn ngắn theo lời quen của gia đình. Không cần cả nhà ra đứng.
Lễ ở giếng làng: phần mâm lễ và việc góp lễ
Ở những làng còn giếng chung trước đình, lễ ở giếng thường nằm trong chuỗi nghi lễ của ngày hội. Có làng tổ chức rước nước: một đoàn mang chum, ché ra giếng hoặc ra sông lấy nước, rước về đình để dùng trong lễ tế. Có làng chỉ đặt một mâm lễ ở thành giếng, do người chủ tế hoặc người được làng cử ra dâng hương.
Mâm lễ ở giếng làng thường gọn so với mâm ở đình: hương, hoa, trầu cau, rượu, xôi, có khi thêm thủ lợn hoặc gà luộc tuỳ làng. Lễ vật do quỹ làng chi hoặc do các giáp, các xóm luân phiên đảm nhận. Các gia đình góp tiền công đức hoặc góp gạo nếp, trầu cau theo nếp của làng.
Nếu bạn là người trẻ được cử đi lễ hoặc phụ dọn giếng làng, cứ hỏi các cụ trong ban tổ chức xem năm nay làm phần nào. Mỗi làng có lệ riêng, kể cả trình tự và người đứng lễ. Phần nghi thức sâu hơn của hội làng và chuyện thờ thần ở đình thuộc về một mảng khác; bài này chỉ nói phần mâm lễ ở giếng.
Giếng còn dùng: lễ đi cùng việc giữ nước sạch
Với những nhà vẫn múc nước giếng để dùng, lễ tạ giếng cuối năm là dịp tốt để kiểm lại nguồn nước, việc mà người xưa vẫn làm theo kinh nghiệm. Nắp giếng cần kín để lá, chuột, côn trùng không rơi xuống. Thành giếng nên cao hơn mặt sân để nước mưa bẩn không chảy ngược vào. Quanh miệng giếng nên lát nền dốc ra ngoài, không để vũng nước đọng.
Giếng gần nhà vệ sinh, chuồng trại, ao tù dễ bị thấm bẩn, nhất là sau mùa mưa lũ. Nước có mùi lạ, màu đục, váng dầu hoặc để lâu có cặn vàng là dấu hiệu cần đem đi xét nghiệm tại cơ sở có chức năng trước khi dùng để ăn uống. Nhiều địa phương có chương trình kiểm tra nước giếng cho hộ dân; hỏi trạm y tế hoặc chính quyền nơi ở.
Đặt cạnh nhau, lễ và việc giữ nước không mâu thuẫn. Nén hương thể hiện lòng biết ơn, còn cái nắp đậy, cái rãnh thoát nước mới là thứ giữ cho giếng trong. Người lớn ở quê thường làm cả hai trong cùng một buổi chiều cuối năm.
Khi người trẻ thay ông bà giữ lễ giếng
Ở nhiều nhà quê, ông bà là người duy nhất còn nhớ phải thắp hương giếng vào lúc nào. Khi ông bà yếu hoặc đã mất, con cháu ở thành phố về ăn Tết thường không biết có tục này, hoặc biết mà không rõ làm thế nào. Một vài cách đơn giản giúp nếp nhà không bị đứt.
Trước hết, hỏi và ghi lại khi người lớn còn khoẻ: thắp hương giếng hôm nào, đặt những gì, khấn ra sao. Chụp ảnh khay lễ năm nay để năm sau làm theo. Thứ hai, gộp lễ giếng vào lịch dọn nhà cuối năm, như một việc trong danh sách, để không bị quên giữa bao nhiêu việc Tết.
Thứ ba, chấp nhận làm gọn. Một nén hương, một bông hoa, một đĩa xôi đặt cạnh giếng đã là giữ lễ. Nếu cả nhà đã chuyển lên phố và giếng quê bỏ không, nhiều gia đình chọn thắp hương ở giếng vào dịp về quê dịp Tết hay ngày giỗ, rồi đậy nắp kỹ, rào lại cho an toàn với trẻ con hàng xóm.
Khi phải nạo vét hoặc lấp giếng cũ
Giếng khơi lâu năm có lúc phải nạo vét bùn, sửa thành, hoặc thôi dùng vì nước nhiễm bẩn, vì làm nhà. Đây là việc nhiều gia đình cân nhắc kỹ. Trình tự nhiều nhà làm:
- Bàn trong nhà trước, nhất là với người lớn tuổi. Với nhiều cụ, giếng gắn với ký ức của cả đời; quyết định lấp giếng nên được nói rõ lý do (nước ô nhiễm, mặt bằng chật, an toàn trẻ nhỏ).
- Thắp một nén hương ở giếng, đặt một khay lễ nhỏ, báo việc sẽ làm. Nhiều nhà coi đây là phép lịch sự với nơi đã dùng nhiều năm.
- Thuê thợ có kinh nghiệm. Giếng sâu có thể thiếu không khí ở đáy; người xuống giếng cần được kiểm tra an toàn, có dây, có người đứng trên. Đã có nhiều tai nạn khi tự xuống giếng nạo vét.
- Nếu lấp giếng: đổ vật liệu phù hợp, nén chặt từng lớp để tránh sụt lún sau này; giếng nằm dưới móng nhà mới cần kỹ sư tính toán. Cách làm kỹ thuật thì hỏi người làm nghề.
- Sau khi xong, nhiều nhà thắp hương một lần nữa ở chỗ giếng cũ hoặc ở bàn thờ, coi như khép lại. Có nhà giữ lại một phần thành giếng làm kỷ niệm.
Không có lý do gì để sợ khi phải lấp một chiếc giếng không còn dùng được. Phần quan trọng là làm cẩn thận, an toàn và để người lớn trong nhà thấy được tôn trọng.
Câu hỏi thường gặp
Nhà dùng giếng khoan có cần cúng giếng không?
Tuỳ gia đình. Tục cúng giếng gắn với giếng khơi đào thủ công, nơi người ta thấy được mặt nước. Nhiều nhà dùng giếng khoan không làm lễ này; có nhà vẫn thắp một nén hương ở chỗ đặt máy bơm dịp Tết. Không làm cũng không có gì sai.
Cúng giếng vào ngày nào trong dịp Tết?
Nhiều nhà tạ giếng chiều 30 Tết hoặc vài ngày cuối tháng Chạp, cùng lúc dọn dẹp quanh nhà; có nhà thắp hương giếng vào sáng mùng một. Không có ngày bắt buộc; chọn lúc nhà rảnh tay và trời không mưa gió.
Có thật là kiêng múc nước giếng ngày mùng một?
Đó là tục của một số nhà, không phải điều phổ biến khắp nơi. Ngày trước, người ta gánh nước đầy chum từ hôm 30 để mấy ngày Tết được nghỉ. Ngày nay nhà nào cần nước vẫn dùng bình thường.
Mâm cúng giếng có cần món mặn không?
Phần lớn không cần. Hương, hoa, xôi hoặc oản, trầu cau, rượu và đĩa quả là đủ. Lễ ở giếng làng có thể có gà hoặc thủ lợn theo lệ làng, nhưng giếng nhà thì mâm gọn là phổ biến.
Giếng cũ bị ô nhiễm, lấp đi có cần làm lễ lớn không?
Không cần lễ lớn. Nhiều nhà chỉ thắp hương, đặt khay lễ nhỏ, báo việc sẽ làm rồi thuê thợ. Phần nên đầu tư là kỹ thuật lấp an toàn và nói chuyện để người lớn trong nhà yên lòng.
Giếng làng trước đình có ai được đến thắp hương không?
Thường thì người dân trong làng có thể thắp hương ở giếng vào ngày thường, còn trong ngày hội thì theo trình tự của ban tổ chức. Người nơi khác đến nên hỏi người trông coi đình trước khi đặt lễ.