Lễ xuống đồng (hạ điền) là lễ mở đầu một vụ lúa, làm trước khi cày cấy; lễ thượng điền là lễ khép lại, ở nhiều làng Bắc Bộ làm khi đã cấy xong, còn ở nhiều nơi Nam Bộ làm sau khi gặt. Lễ của làng thường do đình hoặc ban tế lo, có mâm lễ ở đình rồi ra đồng; lễ của từng nhà gọn hơn: một khay xôi, gà hoặc trứng luộc, trầu cau, rượu, nhang, đặt trên bờ ruộng.
Ở nhiều vùng, những lễ này đã thưa đi vì cơ giới hoá, vì người làm ruộng ít đi. Nhưng không ít làng vẫn giữ, có nơi đã phục dựng thành lễ hội đầu xuân. Bài đi vào phần mâm lễ và cách làm của làng lẫn của gia đình, khác biệt giữa các vùng, và cách giữ lễ vừa sức cho nhà còn làm nông hôm nay. Phần thờ thần ở đình và các lễ hội làng lớn chỉ được nhắc khi cần.
Vì sao làng lúa có lễ đầu vụ và cuối vụ
Với cư dân trồng lúa nước, một vụ lúa là cả một chuỗi việc phụ thuộc vào thời tiết: nước về đúng lúc, không hạn, không lũ, không sâu bệnh. Người xưa không điều khiển được những thứ ấy, nên trước mỗi vụ, cả làng làm lễ báo với thần đất, thần nông và tổ tiên rằng làng sắp xuống đồng, cầu cho vụ mùa thuận. Cuối vụ hoặc khi cấy xong, làng làm lễ tạ, coi như khép một chặng việc.
Trong nhiều làng Bắc Bộ, lễ xuống đồng gắn với tục người cao tuổi hoặc người được làng chọn cày đường cày đầu tiên, cấy những khóm mạ đầu tiên, sau đó cả làng mới bắt đầu. Ở Nam Bộ, đình làng có lễ Hạ điền và Thượng điền trong năm, gắn với thời điểm xuống giống và sau thu hoạch, có nơi gộp vào lễ Kỳ yên. Người Việt ở Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số có những lễ mùa vụ riêng, khác hẳn; phần đó thuộc về một mảng khác.
Lý do lễ còn sống cũng rất thực tế: đó là mốc để cả làng cùng bắt đầu, chia nước, chia việc. Khi chưa có lịch thời vụ in sẵn, một lễ chung là cách đơn giản để mọi nhà cùng nhịp.
Ngày nay, lịch thời vụ do cơ quan nông nghiệp địa phương thông báo, nước do hệ thống thuỷ lợi điều tiết, nên vai trò “giữ nhịp” của lễ đã nhẹ đi nhiều. Phần còn lại là ý nghĩa văn hoá: một dịp cả làng gặp nhau, người già kể chuyện mùa màng xưa, người trẻ thấy được rằng hạt gạo trên mâm cơm đi qua bao nhiêu công sức. Với nhiều làng, chừng ấy đã đủ lý do để giữ một mâm lễ nhỏ mỗi đầu vụ.
Lễ xuống đồng và lễ thượng điền ở các vùng
Bảng dưới gom những gì hay gặp. Thời điểm và tên gọi thay đổi theo vụ (vụ chiêm, vụ mùa, vụ đông xuân, hè thu) và theo từng làng.
| Lễ | Thời điểm thường gặp | Ai lo | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Xuống đồng ở Bắc Bộ | Đầu năm âm lịch hoặc đầu mỗi vụ | Làng, ban tế đình; từng nhà thêm lễ nhỏ | Có nơi tổ chức thành hội, cày luống đầu tiên |
| Thượng điền ở Bắc Bộ | Khi cấy xong, lúa đã bén | Làng hoặc từng nhà | Có nơi gọi lễ “lên đồng” hoặc lễ mừng cấy xong |
| Hạ điền ở Nam Bộ | Trước khi xuống giống vụ chính | Đình làng, ban quý tế | Có nơi gộp với lễ Kỳ yên |
| Thượng điền ở Nam Bộ | Sau khi thu hoạch | Đình làng, từng nhà | Tạ ơn sau mùa, có khi kèm lễ cơm mới |
| Lễ nhỏ của gia đình | Ngày đầu tiên ra ruộng của vụ | Chủ ruộng | Một khay lễ trên bờ ruộng |
Lễ cơm mới sau gặt là một lễ riêng ở nhiều làng, có bài khác trên trang nói về mâm cơm gạo mới. Ở đây chỉ nhắc khi nó đi cùng lễ thượng điền.
Mâm lễ của làng: ở đình và ngoài đồng
Lễ của làng thường có hai chặng: dâng lễ ở đình hoặc miếu, rồi ra đồng làm phần nghi thức mở đầu. Mâm lễ hay gặp:
- Ở đình, miếu: hương, hoa, đèn nến, trầu cau, rượu, xôi, gà luộc hoặc thủ lợn tuỳ làng; mâm ngũ quả. Có làng dâng thêm thóc giống, nông cụ đặt trước án như một cách trình báo.
- Ngoài đồng: một mâm nhỏ đặt trên bờ ruộng đầu làng hoặc trên một cái bàn tạm: hương, rượu, trầu cau, xôi, có nơi thêm gà luộc. Đây là chỗ người chủ lễ thắp hương trước khi cày hoặc cấy những khóm đầu tiên.
- Thóc giống hoặc mạ: một ít thóc giống, một bó mạ đặt trên mâm hoặc bên cạnh, tượng trưng cho vụ sắp làm.
- Nước sạch: một chén nước, ở nơi trồng lúa nước thì nước là thứ được trông chờ nhất.
- Lễ vật do các giáp, các xóm góp: nếp nấu xôi, gà, hoa quả được phân cho từng xóm luân phiên đảm nhận.
Sau lễ, nhiều làng chia lộc cho người tham dự, hoặc ăn chung ngay ở đình. Phần lộc thường không lớn, mang ý nghĩa cùng hưởng hơn là bữa tiệc. Ở một số làng, thóc giống đã dâng lễ được trộn vào thóc giống chung của làng, như một cách nối lễ với việc đồng áng thật.
Mâm lễ của từng nhà trên bờ ruộng
Khay lễ gọn. Nhiều nhà làm ruộng chỉ dùng một khay nhỏ: một đĩa xôi, một quả trứng luộc hoặc một miếng thịt luộc, một lá trầu quả cau, một chén rượu, ba nén hương. Có nhà thêm một con gà luộc trong vụ chính.
Đặt ở đầu thửa ruộng. Khay đặt trên bờ ruộng chỗ đầu nước vào, hoặc góc ruộng gần lối đi nhất. Có nhà kê một viên gạch, một chiếc ghế nhỏ cho khay khỏi ướt.
Thắp hương rồi mới làm. Người chủ ruộng thắp hương, khấn ngắn theo cách quen của gia đình, sau đó bắt đầu cày, gieo hoặc cấy. Khay lễ để đến khi hương tàn rồi mang về.
Có nhà thờ Thần Nông ngoài ruộng. Ở một số vùng Nam Bộ, nhà làm ruộng dựng một trụ thờ nhỏ ở bờ ruộng, thắp nhang những ngày đầu vụ và ngày gặt. Đây là nếp của từng nhà, không phổ biến khắp nơi.
Ruộng thuê, ruộng làm chung. Nhà làm ruộng thuê thường vẫn đặt khay lễ nhỏ vào ngày đầu vụ, coi là việc của người đang trực tiếp làm ruộng. Nhiều nhà làm chung thì cử một người đại diện.
Bắc – Nam khác nhau ở đâu trong lễ ruộng
Ở miền Bắc, lễ xuống đồng thường gắn với đầu xuân, khi làng vừa qua Tết, và có màu sắc lễ hội rõ: có làng rước, đánh trống, người cao tuổi mặc áo the ra cày đường cày đầu tiên. Mâm lễ theo khung xôi gà, trầu rượu quen thuộc. Lễ thượng điền nhỏ hơn, có làng làm ở đình, có làng chỉ từng nhà thắp hương khi cấy xong.
Ở Nam Bộ, đồng ruộng rộng, vụ mùa theo con nước, có nơi làm ba vụ một năm, nên lễ ruộng ít mang tính hội mà gắn chặt với đình. Hạ điền và Thượng điền là hai kỳ lễ trong năm của đình làng; từng nhà thì cúng ruộng theo vụ, có nhà cúng ngay tại bờ ruộng, có nhà cúng ở nhà. Mâm lễ ruộng Nam Bộ hay có thêm trái cây vườn, bánh ít, rượu đế.
Miền Trung đất hẹp, ruộng nhỏ, thời tiết khắc nghiệt; nhiều làng có lễ cầu mùa, lễ tế đồng gắn với các miếu nhỏ ngoài cánh đồng. Mâm thường gọn và mang nhiều sản vật địa phương. Ở mọi vùng, điểm chung là lễ được làm ở chính nơi làm ăn, chứ không chỉ ở trong nhà.
Giữ lễ đầu vụ cho nhà còn làm ruộng hôm nay
Nhiều nhà vẫn làm ruộng nhưng dùng máy cấy, máy gặt, thuê dịch vụ phun thuốc. Lễ đầu vụ có thể giữ ở mức rất gọn mà vẫn đủ ý:
- Chọn ngày đầu tiên bắt đầu làm đất hoặc gieo sạ của vụ. Không cần xem ngày; theo lịch thời vụ của địa phương.
- Chuẩn bị khay lễ từ tối hôm trước: xôi, trứng luộc, trầu cau, chén rượu, hương. Nếu thuê máy cày, máy cấy, báo người lái máy đợi vài phút lúc đầu.
- Sáng sớm ra đầu ruộng, đặt khay ở chỗ khô, thắp hương, khấn ngắn hoặc chỉ nói lời mong vụ thuận.
- Bắt đầu việc. Để hương cháy đến khi tàn, nhớ dập tàn hương nếu bờ ruộng có cỏ khô.
- Mang khay về, chia xôi trứng cho người cùng làm, kể cả người lái máy thuê. Lộc đầu vụ chia cho người cùng làm là một nét đẹp nhiều làng còn giữ.
- Cuối vụ, nếu muốn, làm một khay tương tự để tạ, hoặc gộp vào lễ cơm mới ở nhà.
Lễ ruộng không cần tốn kém. Phần nhiều người lớn tuổi coi trọng hơn cả là cái nếp ra ruộng thắp nén hương trước khi làm, như một cách nhắc mình bắt đầu một mùa mới cẩn thận.
Khi làng phục dựng lễ xuống đồng thành lễ hội
Những năm gần đây, một số địa phương phục dựng lễ xuống đồng thành lễ hội đầu xuân, có rước, có trình diễn cày bằng trâu, có khách tham quan. Đây là cách giữ lại một nét văn hoá khi số người làm ruộng giảm dần. Mặt tốt là con cháu được thấy lễ; mặt cần để ý là lễ dễ thành màn diễn, mâm lễ làm to để chụp ảnh.
Với người tham dự, cách ứng xử hợp lý là coi đó vừa là lễ của làng vừa là sinh hoạt văn hoá: đứng ngoài khu vực hành lễ, không giẫm vào ruộng đã chuẩn bị, hỏi trước khi chụp người cao tuổi đang làm lễ. Với ban tổ chức, nhiều làng chọn giữ mâm lễ ở mức của nếp cũ, phần trình diễn tách ra riêng để không lẫn lộn.
Với những gia đình còn làm ruộng trong làng, lễ hội chung không thay được khay lễ nhỏ ở bờ ruộng nhà mình. Nhiều nhà vẫn làm cả hai: dự lễ chung của làng buổi sáng, chiều ra ruộng nhà thắp nén hương riêng.
Câu hỏi thường gặp
Lễ xuống đồng và lễ hạ điền có phải là một không?
Ở nhiều nơi, hai tên gọi chỉ cùng một lễ mở đầu vụ. “Hạ điền” là từ Hán Việt, nghĩa là xuống ruộng. Ở Nam Bộ, Hạ điền còn là tên một kỳ lễ trong năm của đình làng. Cách dùng tên khác nhau theo vùng.
Lễ thượng điền làm sau khi cấy xong hay sau khi gặt?
Tuỳ vùng. Ở nhiều làng Bắc Bộ, thượng điền là lễ khi cấy xong, mừng lúa đã bén chân. Ở nhiều nơi Nam Bộ, thượng điền làm sau thu hoạch để tạ ơn. Cả hai cách hiểu đều có trong tập quán; theo nếp làng mình.
Nhà chỉ còn vài sào ruộng có cần làm lễ đầu vụ không?
Không bắt buộc. Nhiều nhà vẫn đặt một khay lễ nhỏ ở bờ ruộng ngày đầu vụ vì thói quen của ông bà; nhiều nhà không làm. Lễ ruộng là nếp của từng gia đình, làm hay không là lựa chọn của chủ ruộng.
Mâm lễ đầu vụ có cần gà không?
Không cần. Khay lễ gọn với xôi, trứng luộc, trầu cau, rượu, hương là đủ ở nhiều nhà. Gà luộc thường dành cho vụ chính hoặc lễ của làng. Món mặn tuỳ khả năng từng nhà.
Người không phải dân làng có đến xem lễ xuống đồng được không?
Thường là được, nhất là các lễ đã thành hội. Bạn nên đứng ngoài khu vực hành lễ, không giẫm vào ruộng, giữ trật tự và hỏi trước khi chụp ảnh cận người đang làm lễ.
Thuê dịch vụ máy cấy, máy gặt thì ai đứng lễ đầu vụ?
Người đứng lễ vẫn là chủ ruộng hoặc người trong gia đình. Người lái máy không cần tham gia phần lễ, nhưng nhiều nhà mời họ chờ vài phút và chia lộc xôi trứng sau lễ như một cách cảm ơn.