Lễ gia tiên trong cưới hỏi ở ba miền giống nhau ở phần cốt lõi: đặt lễ lên bàn thờ, thắp hương báo tổ tiên, cô dâu chú rể vái lạy. Khác nhau ở lễ vật đi kèm, số lễ, nghi thức phụ như lễ tơ hồng ở miền Bắc hay lễ lên đèn ở miền Nam, và mức trang trọng của từng bước. Khi hai nhà khác vùng, cách phổ biến là lễ ở nhà nào thì theo nếp nhà đó, còn những bước chung thì hai bên bàn trước qua đôi trẻ.
Không vùng nào làm "đúng" hơn vùng nào, và trong cùng một miền mỗi tỉnh, mỗi làng lại có nếp riêng. Bài này so sánh những khác biệt hay gặp ở người Kinh, giải thích kỹ lễ lên đèn của Nam Bộ vì nhiều nhà miền Bắc chưa từng thấy, và gợi ý danh sách câu hỏi hai nhà nên trao đổi trước để không ai bỡ ngỡ trong ngày lễ.
Ba miền khác nhau ở phần lễ gia tiên như thế nào
Bảng dưới là những khác biệt thường gặp. Đây là khái quát theo tập quán phổ biến, không phải mọi gia đình trong vùng đều như vậy:
| Phần lễ | Miền Bắc | Miền Trung | Miền Nam |
|---|---|---|---|
| Tên gọi lễ hỏi | Lễ ăn hỏi | Lễ ăn hỏi, lễ đính hôn | Đám hỏi |
| Lễ vật đặt lên bàn thờ | Trầu cau, rượu, chè, bánh cốm, bánh phu thê, có nơi lợn quay | Trầu cau, rượu, trà, bánh, lễ thường nhẹ | Trầu cau, rượu, trà, bánh pía, bánh phu thê, heo quay, cặp đèn cầy |
| Nghi thức riêng hay gặp | Lễ tơ hồng, lễ lại mặt | Coi trọng lời thưa của người đại diện | Lễ lên đèn, trao nữ trang trước bàn thờ |
| Ai đứng lễ | Bố hoặc người lớn nhất bên nội | Bố hoặc người lớn trong họ | Bố mẹ, nhiều nơi mẹ đứng cùng |
| Số tráp | Thường số lẻ | Không câu nệ | Thường số chẵn, có nơi số lẻ |
Số tráp, cách bày tráp là phần thuộc lễ vật ăn hỏi, mỗi vùng tranh luận nhiều; bài này chỉ nhắc để thấy khác biệt. Phần lễ trước bàn thờ, vốn là cốt lõi, lại giống nhau hơn người ta tưởng.
Lễ lên đèn của Nam Bộ: làm gì, ai làm
Lễ lên đèn là nghi thức hay gặp trong đám cưới ở Nam Bộ. Trên bàn thờ gia tiên đặt một cặp đèn cầy, tức nến đỏ, thường trang trí rồng phượng nên hay gọi là nến long phụng. Đến phần lễ gia tiên, hai bà mẹ, hoặc bố mẹ hai bên, hoặc chính cô dâu chú rể, cùng thắp cặp đèn này lên. Một bên thắp cây long, một bên thắp cây phụng, rồi đặt lại hai bên bát hương.
Theo quan niệm dân gian, cặp đèn tượng trưng cho đôi vợ chồng, ánh sáng là lời chúc cho cuộc sống chung sáng sủa, ấm áp. Lễ lên đèn có thể làm ở nhà gái trong đám hỏi, ở nhà trai khi rước dâu về, hoặc ở cả hai nơi, tuỳ nếp từng nhà và từng tỉnh.
Có người nhìn ngọn đèn cháy đều hay lệch để đoán chuyện vợ chồng sau này. Ngọn nến cháy thế nào phụ thuộc vào bấc, sáp, gió trong phòng và cách đặt, không có liên hệ nào với cuộc sống của đôi trẻ. Nếu gia đình bạn có người hay lo về điều này, chọn nến tốt, đặt xa quạt và cửa sổ là đủ để mọi người yên tâm. Sau lễ, nhiều nhà để đèn cháy một lúc rồi tắt, cất cặp nến lại làm kỷ niệm.
Về an toàn, nến long phụng thường to và cháy lâu, đặt trên bàn thờ gần hoa và khăn phủ. Chọn đế nến chắc, không đặt sát rèm hay hoa giả bằng vải. Khi cả nhà ra tiệc, nên tắt nến hoặc để một người ở lại trông, đừng để lửa cháy trong phòng không người.
Trao nữ trang trước bàn thờ: nghi thức hay gặp ở đám hỏi miền Nam
Ở nhiều gia đình Nam Bộ, sau khi nhà gái đặt lễ lên bàn thờ và thắp hương, mẹ chú rể được mời lên trao nữ trang cho cô dâu ngay trước bàn thờ: đeo bông tai, dây chuyền, vòng hoặc nhẫn. Có nhà để mẹ cô dâu đeo cùng, có nhà để chú rể đeo nhẫn cho cô dâu. Nghi thức này diễn ra trước mặt hai họ, nên được coi như lời nhận dâu chính thức của gia đình nhà trai.
Ở miền Bắc, việc trao trang sức cũng có, nhưng nhiều nhà làm trong lễ cưới hơn là lễ ăn hỏi, và không nhất thiết trước bàn thờ. Một số nhà miền Bắc không có nghi thức này, trang sức được trao riêng trong gia đình. Khi hai nhà khác vùng, nên hỏi nhau trước để nhà trai biết có cần chuẩn bị phần này trong lễ hỏi hay không.
Trang sức nhiều hay ít, vàng hay bạc là chuyện của từng nhà, bài này không bàn. Điều liên quan đến phần lễ chỉ là thời điểm: trao nữ trang thường sau khi đôi trẻ thắp hương, trước khi hai họ ngồi lại dùng trà. Nếu có chụp ảnh, nhờ người chụp đứng sẵn để khỏi phải làm lại.
Giữ nếp nhà nào: nguyên tắc nhiều gia đình đồng ý
Lễ ở nhà nào theo nếp nhà đó. Đây là cách đơn giản nhất. Lễ ăn hỏi ở nhà gái theo nếp nhà gái, lễ đón dâu ở nhà trai theo nếp nhà trai. Nhà khách chỉ cần biết trước để không ngỡ ngàng.
Lễ vật mang sang nhà gái thì hỏi nhà gái. Nhà trai miền Bắc lấy vợ miền Nam nên hỏi nhà gái có cần heo quay không, có cần cặp đèn cầy không. Nhà trai miền Nam lấy vợ miền Bắc nên hỏi nhà gái về số tráp, bánh cốm, bánh phu thê.
Nghi thức riêng của một bên thì hỏi bên kia có thoải mái không. Ví dụ nhà trai muốn làm lễ tơ hồng, nhà gái muốn làm lễ lên đèn. Hai nghi thức không loại trừ nhau, có thể làm cả hai, miễn thời gian cho phép.
Chuyện kiêng kỵ thì không tranh luận đúng sai. Mỗi vùng có điều kiêng riêng. Bên nào kiêng gì thì bên kia tôn trọng, không cần thuyết phục nhau xem điều kiêng đó có cơ sở hay không.
Danh sách câu hỏi hai nhà nên trao đổi trước
Đôi trẻ thường là cầu nối. Những câu này nên hỏi bố mẹ mình rồi chuyển cho bên kia từ sớm, ít nhất trước lễ ăn hỏi vài tuần:
- Bên mình có thắp hương báo gia tiên trước ngày cưới không, ai đứng lễ.
- Lễ ăn hỏi bên nhà gái cần những lễ vật gì, có cần heo quay hoặc lợn quay không, có đặt cặp đèn trên bàn thờ không.
- Nhà gái có trao nữ trang trước bàn thờ không, nếu có thì ai trao.
- Lễ tơ hồng, lễ lên đèn, lễ hợp cẩn: nhà nào muốn giữ, làm ở đâu.
- Mẹ cô dâu có đi đưa dâu không; nhà trai có tục mẹ chồng tránh mặt khi đón dâu không.
- Lễ lại mặt làm ngày nào, ai đi.
- Có điều kiêng nào gia đình đặc biệt coi trọng không.
Gửi danh sách này qua tin nhắn cho bố mẹ cũng được, nhưng gặp trực tiếp hoặc gọi điện thì dễ nghe hơn. Câu trả lời "nhà mình không có nếp gì đặc biệt" cũng là một câu trả lời quý, vì nó cho bên kia biết có thể làm theo cách của mình.
Những chỗ dễ lệch nhau và cách gỡ
Khác biệt hay gây căng thẳng nhất thường không phải lễ vật mà là nhịp. Đám cưới miền Bắc nhiều nơi gọn trong một buổi sáng, đám cưới miền Nam hay kéo dài với tiệc ở cả hai nhà. Nhà trai miền Bắc vào Nam đón dâu có thể ngỡ ngàng khi nhà gái mời ở lại dùng tiệc; nhà trai miền Nam ra Bắc lại thấy mọi thứ diễn ra nhanh. Biết trước nhịp của bên kia là tránh được hiểu lầm.
Khác biệt thứ hai là cách nói. Người đại diện nhà gái miền Trung nhiều khi nói dài và trang trọng; người miền Nam hay nói ngắn, thân mật; người miền Bắc chú ý đến thứ tự và từ ngữ. Không bên nào sai. Người đại diện mỗi bên nên được dặn trước rằng nhà bên kia có cách nói khác.
Khác biệt thứ ba là món ăn trên mâm lễ. Mâm lễ gia tiên miền Bắc hay có xôi gấc, gà luộc; miền Nam hay có heo quay, xôi, chè. Khi nhà trai mang lễ sang, đừng ngại mang theo món của vùng mình bên cạnh món nhà gái quen, như một cách giới thiệu quê nhà.
Khác biệt cuối cùng ít ai nghĩ tới là giọng nói và cách gọi tên các thứ trên mâm. Cùng một thứ, người Bắc gọi lợn quay, người Nam gọi heo quay; người Bắc nói chè, người Nam nói trà. Người đại diện đọc nhầm tên lễ vật của bên kia không phải điều thất lễ, nhưng nếu được dặn trước thì buổi lễ trôi chảy và hai họ thấy được tôn trọng.
Khi cả hai vợ chồng đã sống ở thành phố khác quê
Ngày càng nhiều đôi gặp nhau ở Hà Nội, Đà Nẵng hay Thành phố Hồ Chí Minh, quê mỗi người một nơi. Khi đó hai nhà thường phải chọn: tổ chức ở quê nhà trai, quê nhà gái, hay ở thành phố nơi đôi trẻ sống. Phần lễ gia tiên có thể tách khỏi phần tiệc. Ví dụ giả định: lễ ăn hỏi làm ở quê nhà gái theo nếp nhà gái, lễ đón dâu làm ở quê nhà trai, còn tiệc mời bạn bè làm ở thành phố một tuần sau.
Cách tách này giúp mỗi nhà giữ trọn nếp của mình ở đúng bàn thờ của mình. Phần tiệc ở thành phố thì không cần nghi lễ gia tiên, có thể làm theo phong cách đôi trẻ thích. Chi phí đi lại tăng, nhưng nhiều gia đình thấy nhẹ đầu hơn so với cố ép nếp hai vùng vào một ngày.
Nếu chỉ tổ chức được một lần ở thành phố, hai bên bố mẹ vẫn có thể thắp hương báo gia tiên ở bàn thờ quê nhà trước khi đi. Phần lễ gia tiên trong ngày cưới khi đó làm ở nơi có bàn thờ gần nhất, thường là nhà bố mẹ một bên.
Bên còn lại có thể làm lễ báo ở bàn thờ nhà mình vào một ngày khác, khi đôi vợ chồng về thăm. Nhiều gia đình thấy cách chia hai như vậy công bằng với cả hai nếp: mỗi bàn thờ đều có lúc đón cô dâu chú rể, mỗi bên bố mẹ đều được đứng lễ ở nhà mình.
Câu hỏi thường gặp
Chồng Bắc vợ Nam thì lễ ăn hỏi theo nếp nhà nào?
Theo cách phổ biến, lễ ăn hỏi làm ở nhà gái nên theo nếp nhà gái. Nhà trai hỏi trước nhà gái cần lễ vật gì, cách bày ra sao. Nhà trai có thể mang thêm vài món của vùng mình như một lời giới thiệu.
Lễ lên đèn có bắt buộc trong đám cưới miền Nam không?
Không bắt buộc. Đây là nghi thức phổ biến ở Nam Bộ nhưng không phải gia đình nào cũng làm. Có nhà làm ở đám hỏi, có nhà làm khi rước dâu, có nhà bỏ. Gia đình quyết theo nếp riêng.
Ngọn đèn cầy cháy lệch trong lễ lên đèn có phải điềm xấu không?
Không có cơ sở để coi đó là điềm báo. Nến cháy lệch hay đều phụ thuộc vào bấc, sáp, gió và cách đặt. Chọn nến chất lượng tốt, đặt xa quạt và cửa sổ là cách đơn giản để ngọn lửa ổn định.
Đám cưới miền Trung có gì khác trong phần lễ gia tiên?
Nhiều gia đình miền Trung, nhất là ở Huế, làm lễ khá thanh đạm, lễ vật nhẹ nhưng coi trọng lời thưa và thứ tự trước bàn thờ. Mỗi tỉnh, mỗi làng lại có khác biệt riêng, nên hỏi trực tiếp gia đình.
Hai nhà không thống nhất được nếp thì làm sao?
Nguyên tắc nhiều gia đình đồng ý là lễ ở nhà nào theo nếp nhà đó. Những phần chung như ngày giờ, số khách thì đôi trẻ làm cầu nối, nói chuyện riêng với bố mẹ từng bên trước khi hai nhà gặp nhau.
Có cần mời người làm dịch vụ cưới am hiểu nếp vùng không?
Không bắt buộc. Người lớn trong họ thường hiểu nếp nhà hơn ai hết. Nếu thuê dịch vụ, nên nói rõ đây là đám cưới hai vùng để họ không tự áp một kịch bản chung lên phần lễ gia tiên.