Lễ tiễn ông bà là lễ cúng khép lại những ngày Tết trong nhà: gia đình dọn một mâm cơm tạ, mời tổ tiên dùng bữa cuối rồi tiễn đi, sau đó hạ dần đồ cúng trên bàn thờ. Miền Bắc nhiều nơi gọi là lễ hoá vàng vì sau lễ có hoá vàng mã; miền Nam gọi là đưa ông bà; Huế và nhiều nơi miền Trung gắn với lễ hạ nêu ngày mùng Bảy.
Bài này đi vào cái mâm và phần việc sau lễ: mâm tiễn gồm những gì, các vùng hay làm ngày nào, và bàn thờ sau Tết được dọn ra sao cho gọn. Phần văn khấn và cách hoá vàng mã đã có nhiều tài liệu riêng; ở đây chỉ nhắc một đoạn về an toàn.
Lễ tiễn nằm ở đâu trong chuỗi lễ Tết
Nếu chiều 30 là lúc rước, đêm giao thừa là lúc chuyển năm, thì lễ tiễn là điểm khép lại. Từ đây, bàn thờ trở về nhịp thường ngày: rằm, mùng một, ngày giỗ. Với nhiều gia đình, lễ tiễn cũng là lúc nhịp Tết trong nhà kết thúc, con cháu ở xa chuẩn bị trở lại thành phố, người đi làm sắp vào ca đầu năm.
Ý của lễ được giải thích theo hai cách gần nhau. Một là tiễn ông bà đã về ăn Tết trở về nơi của mình, như tiễn người thân sau kỳ sum họp. Hai là tạ ơn trời đất, tổ tiên cho một cái Tết trọn vẹn. Hai cách hiểu không loại trừ nhau, và lễ vật trên mâm cũng phục vụ cả hai ý.
Lễ tiễn còn là dịp để cả nhà nhìn lại mấy ngày Tết: ai đã về, ai chưa về được, nhà nào trong họ mới có cháu, ai vừa đi xa. Nhiều gia đình nhân bữa cơm tạ mà bàn chuyện năm mới, chuyện học của con, chuyện sửa nhà. Bữa cơm vì thế quan trọng không kém phần lễ.
Vì là bữa cuối của Tết, mâm tiễn thường là mâm cơm mặn tươm tất, nhưng không cần cầu kỳ như mâm tất niên. Nhiều nhà nấu thêm một hai món mới, phần còn lại dùng món của Tết còn trong nhà.
Các vùng hay làm lễ tiễn vào ngày nào
Bảng dưới gom những ngày hay gặp theo tập quán. Đây không phải lịch chung cho cả vùng; trong cùng một làng mỗi nhà vẫn có thể làm khác ngày.
| Vùng | Ngày hay gặp | Tên gọi quen | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Đồng bằng Bắc Bộ | Mùng 3 hoặc mùng 4 Tết | Lễ hoá vàng | Nhà đi làm sớm có thể làm chiều mùng 3 |
| Một số nơi Bắc Bộ | Mùng 7 Tết | Lễ hoá vàng gắn với hạ cây nêu | Nhà giữ nếp dựng nêu |
| Huế và miền Trung | Mùng 7 Tết | Lễ hạ nêu, khai hạ | Có nhà tiễn ông bà sớm hơn rồi mùng 7 làm lễ hạ nêu |
| Nam Bộ | Mùng 3 hoặc mùng 4 Tết | Đưa ông bà | Có nhà đưa ông bà sau mùng 4, tuỳ lịch con cháu |
| Gia đình phải đi làm sớm | Chiều mùng 2 hoặc mùng 3 | Tiễn sớm | Nhiều nhà chọn ngày cả nhà còn có mặt |
Chọn ngày tiễn ở nhiều nhà gắn với lịch đi làm, lịch xe về thành phố của con cháu. Xem ngày tốt xấu là chuyện riêng của từng gia đình, bài không bàn đến. Nếu băn khoăn, hỏi người lớn trong nhà xem mọi năm làm ngày nào.
Mâm cơm tạ: những phần hay có
Món nấu mới. Nhiều nhà nấu một nồi canh mới, luộc một con gà hoặc một miếng thịt, xào một đĩa rau. Món nóng nấu trong ngày làm mâm có hơi ấm của bữa ăn mới.
Món Tết còn lại. Giò, bánh chưng hoặc bánh tét, thịt kho, dưa hành, củ kiệu. Đây là lúc dùng nốt những món còn tốt, tránh để sang tuần sau thành đồ bỏ.
Xôi hoặc cơm. Nhiều nhà miền Bắc có đĩa xôi; nhiều nhà miền Nam dọn cơm trắng, chén đũa như bữa thường ngày.
Rượu, trà, nước. Chén rượu, ly trà, chén nước như các mâm Tết khác. Trà là trà mới pha, không rót lại từ ấm cũ.
Vàng mã nếu nhà có. Nhiều nhà Bắc Bộ có một lễ vàng mã nhỏ để hoá sau khi hương tàn. Theo tập quán phổ biến, lễ vừa đủ là được; nhiều gia đình đã giảm hẳn hoặc bỏ phần này.
Sau lễ: hạ đồ cúng và dọn bàn thờ theo thứ tự
Sau lễ tiễn, nhiều nhà bắt đầu dọn bàn thờ để trở về nhịp bình thường. Dưới đây là thứ tự hay gặp, làm từ từ trong một hai ngày cũng được.
- Đợi hương tàn, xin hạ mâm cơm, cả nhà cùng ăn bữa tạ.
- Hạ cặp bánh chưng hoặc đòn bánh tét trên bàn thờ, bóc ra xem; bánh còn tốt thì cắt ăn hoặc rán, bánh có dấu hỏng thì bỏ.
- Hạ mâm ngũ quả: quả chín ăn trước, quả còn xanh như bưởi, phật thủ có thể để lại thêm vài ngày hoặc chia cho con cháu mang về.
- Thay hoa nếu đã héo, giữ lại cành đào, cành mai nếu còn đẹp; đổ nước bình, rửa bình.
- Hạ hai cây mía (nếu nhà có tục này), cắt ra cho trẻ con ăn hoặc chia cho hàng xóm.
- Lau mặt bàn thờ, thay nước, sửa lại bát hương, cất đèn trang trí Tết, đặt lại đĩa quả, lọ hoa thường ngày.
Nhiều nhà làm phần dọn này ngay chiều hôm tiễn, nhiều nhà để sang hôm sau. Không có quy định phải dọn trong ngày.
Hoá vàng sau lễ: gọn và an toàn
Ở những nhà còn giữ vàng mã, phần hoá thường làm ngay sau khi hương tàn. Chỗ hoá nên là chậu kim loại đặt trên nền gạch hoặc xi măng, cách xa mái che, cây khô, dây điện, xe máy. Hoá từng ít một, có người trông, có sẵn xô nước, đợi tắt hẳn mới rời đi; tro để nguội rồi mới đổ.
Ở chung cư, nhiều toà nhà có chỗ hoá chung dưới sân hoặc cấm hẳn việc đốt. Khi đó nhiều gia đình giữ lễ tiễn bằng mâm cơm, hương, trà và lời khấn, không hoá vàng. Nếu băn khoăn, hãy hỏi người lớn trong nhà; nhiều cụ bây giờ cũng đồng tình với cách làm gọn này.
Trẻ nhỏ thường rất thích đứng gần chậu hoá vàng xem lửa. Nên cho bé đứng cách xa, có người lớn nắm tay, và không giao cho trẻ việc bỏ giấy vào lửa. Gió đầu xuân có thể hất tàn lửa lên tóc, lên áo len rất nhanh.
Giảm vàng mã cũng là xu hướng chung ở nhiều nơi trong những năm gần đây. Theo tập quán phổ biến, ý nghĩa của lễ tiễn nằm ở bữa cơm tạ và tấm lòng của con cháu, không ở lượng đồ đem đốt.
Mùng Bảy, cây nêu và lễ khai hạ
Ở nhiều vùng, Tết trong nhà kéo dài đến mùng Bảy tháng Giêng. Theo tập quán cổ, cây nêu được dựng trước nhà từ khoảng 23 tháng Chạp và hạ xuống ngày mùng Bảy; ngày này được gọi là ngày khai hạ, coi như ngày Tết chính thức kết thúc, mọi việc trở lại bình thường.
Ở Huế, nhiều gia đình còn giữ lễ cúng khai hạ mùng Bảy với một mâm cơm tươm tất, có nơi cúng chay. Những nhà đã tiễn ông bà từ mùng ba, mùng bốn thì mùng Bảy chỉ làm một lễ nhỏ, thắp hương, dâng trà và bánh mứt. Ở một số làng Bắc Bộ, lễ hoá vàng được làm đúng ngày hạ nêu.
Ngày nay cây nêu chỉ còn ở một số làng, đình, khu di tích và nhà giữ nếp cũ. Nhiều gia đình thành phố không dựng nêu nhưng vẫn biết mùng Bảy là ngày "hết Tết". Nếu nhà bạn tiễn ông bà sớm hơn, không có gì thiếu; ngày mùng Bảy có thể chỉ là ngày cất nốt đồ trang trí và nhận lại nhịp sống thường ngày.
Nhà neo người, con cháu đã đi: tiễn ông bà cho gọn
Nhiều cặp cha mẹ già ở quê, đến mùng ba con cháu đã về thành phố hết, lễ tiễn chỉ còn hai người. Khi đó mâm có thể rất nhỏ: một bát canh, một đĩa thịt luộc, một đĩa bánh chưng cắt sẵn, chén cơm, ly trà. Lễ nhỏ mà đủ ý, không ai cần phải nấu cỗ cho hai người ăn.
Con cháu ở xa có thể gọi về lúc cha mẹ thắp hương, hoặc nhắn hỏi trước để biết ngày cha mẹ tiễn, cùng thắp một nén hương ở nhà mình nếu có bàn thờ. Nhiều gia đình cũng thống nhất trước khi con cháu đi: phần dọn bàn thờ, hạ bánh, hạ mâm quả để lại cho ai, tránh cha mẹ già phải trèo lên ghế cao một mình.
Phần dọn bàn thờ cũng không cần làm hết trong một buổi. Hạ mâm quả và bánh trước, để hoa và đèn lại vài hôm cho bàn thờ còn không khí Tết cũng là cách nhiều nhà làm.
Với người sống một mình ở thành phố, lễ tiễn có thể chỉ là chén trà mới, nén hương, lời cảm ơn và việc dọn lại góc thờ. Lễ gọn không phải là lễ thiếu.
Đồ cúng Tết dùng thế nào cho khỏi phí
Sau Tết, nhiều nhà còn khá nhiều đồ cúng: bánh chưng, bánh tét, mứt, quả, giò, rượu. Thụ lộc theo nghĩa đơn giản nhất là con cháu dùng lại những thứ đã dâng, nên dùng sao cho hết và không lãng phí.
Bánh chưng, bánh tét còn tốt có thể cắt khoanh, bọc kín cất ngăn mát vài ngày, hoặc rán giòn. Mứt nên đóng hộp kín lại. Quả trên mâm ngũ quả chín trước ăn trước, quả bị dập do bày nhiều ngày thì cắt bỏ phần dập ăn ngay. Giò, thịt đông để lâu ngoài tủ lạnh thì không nên dùng tiếp.
Rượu, bia, nước ngọt khách biếu dịp Tết còn nhiều thì cất nơi khô mát, ghi lại hạn dùng; bánh kẹo đóng hộp xem ngày hết hạn trước khi đem biếu lại người khác, tránh cảnh hộp bánh đi một vòng rồi quay về đã quá hạn.
Nhiều gia đình chia bớt đồ cúng cho hàng xóm, người giúp việc, bác bảo vệ toà nhà, người làm vệ sinh khu phố trong những ngày đầu năm. Đồ cúng đi ra khỏi nhà thành món quà đầu năm, vừa giữ ý "chia lộc" vừa đỡ phí.
Câu hỏi thường gặp
Lễ tiễn ông bà sau Tết thường làm ngày nào?
Nhiều nhà Bắc Bộ làm mùng 3 hoặc mùng 4, một số nơi làm mùng 7; Huế và miền Trung hay gắn với lễ hạ nêu mùng 7; Nam Bộ thường đưa ông bà mùng 3 hoặc mùng 4. Mỗi nhà có thể khác, nên hỏi người lớn trong nhà.
Mâm cúng tiễn ông bà gồm những gì?
Thường là một mâm cơm mặn: một hai món nấu mới như canh, gà hoặc thịt luộc, rau xào; thêm món Tết còn lại như giò, bánh chưng, thịt kho; cơm hoặc xôi, rượu, trà, nước. Nhà cúng chay thì thay bằng món chay.
Có bắt buộc phải hoá vàng sau lễ tiễn không?
Không bắt buộc. Nhiều nhà còn giữ phần hoá vàng mã, nhiều nhà ở chung cư hoặc đã giản lược thì chỉ dâng mâm cơm, hương, trà. Nếu hoá, hoá ở chỗ được phép và có người trông.
Bánh chưng trên bàn thờ hạ xuống lúc nào?
Nhiều nhà hạ cặp bánh chưng hoặc đòn bánh tét sau lễ tiễn ông bà. Bóc ra kiểm tra, bánh còn tốt thì ăn hoặc rán, bánh có mốc, nhớt hay mùi chua thì bỏ.
Đồ cúng Tết còn nhiều thì làm gì cho khỏi phí?
Ăn những thứ dễ hỏng trước, bánh còn tốt cắt khoanh cất ngăn mát, mứt đóng hộp kín, quả chín ăn ngay. Có thể chia bớt cho hàng xóm hoặc người làm việc quanh nhà như một món quà đầu năm.
Con cháu phải đi làm sớm thì tiễn ông bà thế nào?
Nhiều gia đình làm lễ tiễn sớm hơn, chiều mùng 2 hoặc mùng 3, để cả nhà còn có mặt. Người ở lại có thể dọn bàn thờ sau. Ý nghĩa của bữa cơm tạ là con cháu cùng ngồi lại, nên chọn lúc mọi người đủ mặt.