Lễ tơ hồng là lễ cúng ông Tơ bà Nguyệt, những vị mà theo quan niệm dân gian đã se duyên cho đôi vợ chồng, thường làm ngay trong ngày cưới ở nhà trai, có nơi làm ở nhà gái, với một mâm lễ nhỏ đặt ở sân hoặc giữa nhà chứ không đặt lên bàn thờ gia tiên. Lễ vật phổ biến là hương, hoa, nến, trầu cau, rượu, xôi, gà luộc và hoa quả; người đứng lễ là bố mẹ chú rể hoặc một người lớn trong họ, cô dâu chú rể cùng vái.
Ở thành phố, lễ tơ hồng ngày càng ít gặp; nhiều gia đình trẻ chưa từng nghe tên. Ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, nhiều nhà vẫn giữ, coi đây là lời cảm ơn dành cho mối duyên. Bài này giải thích lễ tơ hồng từ đâu ra, bày ở đâu, gồm những gì, ai đứng lễ, làm lúc nào, và nếu muốn giữ mà nhà chật, thời gian gấp thì làm gọn thế nào.
Ông Tơ bà Nguyệt là ai trong quan niệm dân gian
Hình ảnh người se duyên bằng sợi chỉ đỏ có gốc từ một truyện truyền kỳ đời Đường bên Trung Hoa, kể về chàng thư sinh gặp một ông lão ngồi dưới trăng xem sổ, trong túi có những sợi dây đỏ buộc chân những người định sẵn sẽ thành vợ chồng. Ông lão ấy được gọi là Nguyệt lão, nghĩa là ông già dưới trăng. Truyện này lan sang Việt Nam qua sách vở và văn chương.
Sang tiếng Việt, hình ảnh ấy được dân gian tách thành một cặp, ông Tơ và bà Nguyệt, gắn với chữ "tơ hồng" tức sợi chỉ đỏ. Từ đó có những cách nói quen thuộc như "xe duyên", "xe tơ kết tóc", "duyên do trời định". Trong văn học, ông Tơ bà Nguyệt xuất hiện nhiều trong thơ ca, truyện Nôm khi nói về tình duyên.
Lễ tơ hồng vì vậy không thuộc về thờ cúng tổ tiên, mà là lễ cảm tạ các vị được tin là chủ việc nhân duyên. Đây là lý do nhiều nhà bày lễ tơ hồng ở sân hoặc ở một bàn riêng giữa nhà, hướng ra ngoài, tách khỏi bàn thờ gia tiên. Cách hiểu và cách làm khác nhau nhiều giữa các vùng; bài này tả theo tập quán phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ.
Làm lúc nào và ở nhà nào
Phổ biến nhất: ở nhà trai, sau khi đón dâu về. Cô dâu chú rể về đến nhà trai, làm lễ gia tiên xong thì ra bàn lễ tơ hồng. Có nơi làm tơ hồng trước lễ gia tiên, vì quan niệm việc nhân duyên là việc của trời đất, đứng trước việc nhà.
Trước khi đi đón dâu. Một số nhà làm lễ tơ hồng buổi sáng sớm ở nhà trai, trước khi đoàn xuất phát, với ý xin cho buổi đón dâu suôn sẻ. Khi đó chỉ có chú rể đứng lễ cùng người lớn.
Ở nhà gái. Một số làng làm lễ tơ hồng ở nhà gái trong lúc đón dâu, nhà trai mang lễ vật sang. Đây là nếp ít phổ biến hơn.
Buổi tối ngày cưới. Có nhà làm lễ tơ hồng vào buổi tối, khi khách đã về, chỉ còn người trong nhà. Không khí khi đó yên hơn, đôi vợ chồng mới có thời gian đứng lâu hơn trước bàn lễ.
Không có lệ chọn giờ riêng cho lễ tơ hồng. Giờ đón dâu do hai nhà thống nhất; lễ tơ hồng thường đi theo lịch của buổi đón dâu. Gia đình có nếp xem giờ thì làm theo nếp nhà, nhưng không cần xem riêng.
Mâm lễ tơ hồng thường có gì
Mâm lễ tơ hồng nhỏ hơn mâm gia tiên. Những thứ hay gặp, kèm lý do nhiều nhà bày:
| Lễ vật | Cách bày thường gặp | Vì sao có mặt |
|---|---|---|
| Hương, nến hoặc đèn | Một bát hương nhỏ hoặc cắm hương vào bát gạo, hai cây nến đỏ | Phần tối thiểu của một lễ cúng |
| Hoa tươi | Một bình hoa nhỏ màu tươi | Hoa hồng, hoa cúc vàng, hoa lay ơn hay được chọn |
| Trầu cau | Một đĩa trầu têm hoặc lá trầu với quả cau | Gắn với chuyện vợ chồng trong truyện dân gian Việt |
| Rượu | Một chai và vài chén nhỏ | Lễ vật quen của các lễ cảm tạ |
| Xôi và gà luộc | Đĩa xôi gấc hoặc xôi đỗ, con gà luộc đặt trên đĩa | Món mặn quen của mâm lễ việc vui ở miền Bắc |
| Hoa quả, bánh | Một đĩa quả tươi, vài cặp bánh phu thê hoặc bánh cốm | Bánh phu thê vốn gắn với việc cưới ở nhiều nơi |
| Đồ riêng theo nếp nhà | Có nhà thêm gương, lược, cuộn chỉ đỏ | Không phổ biến khắp nơi; nhà nào có nếp thì giữ |
Theo tập quán, chỉ cần hương, hoa, trầu cau, rượu là đủ thành lễ. Xôi gà, bánh, hoa quả thêm vào tuỳ sức nhà. Cũng có nhà dùng lễ chay hoàn toàn. Nếu cần chọn đồ thờ, bát hương, đèn nến có mô tả rõ ràng, bạn có thể xem thêm trên Vật Phẩm Phong Thủy.
Trình tự gọn
Một buổi lễ tơ hồng thường chỉ mất mười đến mười lăm phút:
- Kê một bàn nhỏ ở sân, hiên hoặc giữa nhà, phủ khăn đỏ. Nếu ở sân, chọn chỗ khuất gió để nến không tắt.
- Bày lễ vật: hương nến ở giữa, hoa một bên, trầu cau và rượu phía trước, xôi gà và hoa quả xếp hai bên.
- Người đứng lễ thắp nến, thắp hương. Người đứng lễ có thể là bố mẹ chú rể, hoặc một người lớn tuổi trong họ được mời.
- Người đứng lễ khấn cảm tạ ông Tơ bà Nguyệt đã se duyên cho đôi trẻ. Lời khấn đọc theo bản của gia đình hoặc thưa bằng lời thường: tên đôi vợ chồng, ngày cưới, lời cảm ơn.
- Cô dâu chú rể đứng trước bàn, vái ba vái. Có nhà để đôi trẻ cùng cầm chung một nén hương.
- Chờ hương tàn bớt thì hạ lễ. Lễ vật thường được mời khách ăn hoặc để cả nhà dùng trong bữa tối.
Người đứng lễ: vì sao nhiều nhà mời người ngoài
Ở một số làng, lễ tơ hồng không do bố mẹ chú rể đứng mà mời một người lớn tuổi trong họ, thường là một bà hoặc một ông có gia đình êm ấm, con cháu đông đủ. Theo cách nghĩ dân gian, mời người như vậy đứng lễ là mong đôi trẻ có cuộc sống giống người đó. Đây là mong ước, không phải cam kết gì về tương lai.
Cách chọn này cũng có những chỗ khó. Không ít gia đình ngày nay thấy khó mời ai vì sợ người kia ngại, hoặc vì tiêu chí "gia đình êm ấm" khiến người không đủ tiêu chí bị chạnh lòng. Bạn không cần đặt nặng chuyện đó. Bố mẹ chú rể tự đứng lễ là cách phổ biến và hoàn toàn đủ lễ.
Nếu bố mẹ chú rể đã mất, ông bà, chú bác hoặc anh chị đứng lễ đều được. Điều cần là người đứng lễ biết mình đang làm gì và nói được vài câu cảm ơn, không cần thuộc bài khấn dài.
Tơ hồng, lên đèn, hợp cẩn: ba lễ hay bị nhầm với nhau
Ba nghi thức này đều xoay quanh đôi vợ chồng mới nên hay bị gộp chung một tên. Thật ra chúng khác nhau về đối tượng, nơi làm và vùng phổ biến:
| Nghi thức | Hướng đến ai | Làm ở đâu, lúc nào | Vùng hay gặp |
|---|---|---|---|
| Lễ tơ hồng | Ông Tơ bà Nguyệt, các vị dân gian tin là se duyên | Bàn lễ riêng ở sân hoặc giữa nhà, thường trong ngày cưới | Đồng bằng Bắc Bộ, một số nơi Bắc Trung Bộ |
| Lễ lên đèn | Tổ tiên hai họ, như lời chúc cho đôi trẻ | Trước bàn thờ gia tiên, thắp cặp nến đỏ | Nam Bộ, một số nơi Nam Trung Bộ |
| Lễ hợp cẩn | Chính đôi vợ chồng | Trong phòng hoặc trước bàn thờ, thường buổi tối ngày cưới | Có ở cả ba miền, mức độ khác nhau |
| Lễ gia tiên | Tổ tiên nhà trai, nhà gái | Trên bàn thờ gia tiên, trong lễ ăn hỏi và đón dâu | Mọi miền |
Phân biệt rõ giúp gia đình quyết định giữ phần nào, bỏ phần nào khi cần làm gọn. Ví dụ giả định: một đôi Bắc lấy Nam có thể giữ lễ gia tiên ở cả hai nhà, làm lễ lên đèn theo nếp nhà gái, còn lễ tơ hồng thì bàn với bố mẹ chú rể xem có muốn giữ không.
Bày lễ ngoài sân hay trong căn hộ: để ý an toàn
Lễ tơ hồng thường bày ở chỗ thoáng, có lửa, giữa lúc đông người. Vài điều nên làm sẵn:
- Ở sân: chọn góc khuất gió, dùng nến có chụp thuỷ tinh hoặc đèn dầu nhỏ có chụp, kê bàn chắc chân trên nền phẳng.
- Khăn trải bàn không buông quá dài xuống đất, tránh vướng chân trẻ con và vướng tà váy cưới.
- Trong căn hộ: không đặt bàn lễ dưới rèm cửa, dưới đèn treo trang trí bằng giấy hoặc vải; dùng hương ít khói, mở cửa sổ.
- Không để nến cháy khi cả nhà ra nhà hàng; hạ lễ, tắt nến trước khi đi.
- Xôi gà bày ngoài sân mùa hè nên che bằng lồng bàn sau khi khấn xong, hoặc hạ sớm cất vào nhà.
- Nếu tầng chung cư có cảm biến khói nhạy, chỉ thắp một hai nén hương ngắn, hoặc dùng đèn thay nến.
Nên giao cho một người cụ thể trông bàn lễ đến khi hạ lễ. Ngày cưới ai cũng bận, và chính những phút không ai để ý là lúc nến đổ hay khăn bắt lửa.
Vì sao nhiều nhà bỏ lễ tơ hồng, và nếu muốn giữ thì làm gọn ra sao
Có ba lý do chính khiến lễ tơ hồng dần vắng ở thành phố. Thứ nhất, nhiều gia đình không còn biết lễ này để làm gì, vì thế hệ ông bà không truyền lại. Thứ hai, ngày cưới quá dày việc: đón dâu, lễ gia tiên, tiệc, chụp ảnh, nên mọi thứ không bắt buộc đều bị cắt. Thứ ba, căn hộ không có sân, bày bàn lễ giữa phòng khách vướng lối đi.
Nếu muốn giữ lễ mà không vướng, bạn có thể làm vào buổi tối ngày cưới, khi khách đã về. Một chiếc bàn nhỏ đặt ngoài ban công thoáng hoặc gần cửa sổ, một bát hương nhỏ, hai cây nến, đĩa trầu cau, chén rượu và đĩa hoa quả là đủ. Bố mẹ chú rể thắp hương, đôi vợ chồng vái lạy. Mười phút là xong.
Ngược lại, nếu gia đình quyết định bỏ, cũng không có lý do gì để lo. Lễ tơ hồng là lễ cảm tạ, không phải điều kiện cho cuộc hôn nhân. Nhiều gia đình thay bằng một câu cảm ơn trong lễ gia tiên, nhắc đến mối duyên của đôi trẻ.
Câu hỏi thường gặp
Lễ tơ hồng có bắt buộc trong đám cưới không?
Không bắt buộc. Đây là tập quán của một số vùng, nhất là đồng bằng Bắc Bộ. Nhiều gia đình bỏ mà không ảnh hưởng gì đến đám cưới. Giữ hay bỏ là quyết định của gia đình, không có quy định chung nào.
Lễ tơ hồng đặt trên bàn thờ gia tiên được không?
Theo tập quán phổ biến, lễ tơ hồng đặt ở bàn riêng, ở sân hoặc giữa nhà, vì ông Tơ bà Nguyệt không thuộc hàng tổ tiên. Nhà quá chật có thể dùng một bàn nhỏ đặt gần cửa, không cần đặt chung với bàn thờ gia tiên.
Mâm lễ tơ hồng chay hay mặn?
Phần lớn nhà làm mặn với xôi gà, nhưng cũng có nhà làm chay với hoa quả, xôi, chè, bánh. Cả hai cách đều có. Gia đình ăn chay hoặc muốn gọn có thể chọn lễ chay mà không thiếu ý.
Ai nên đứng lễ tơ hồng?
Thường là bố mẹ chú rể. Một số nơi mời người lớn tuổi trong họ có gia đình êm ấm đứng lễ như một lời chúc. Nếu không có người như vậy, bố mẹ, ông bà hoặc chú bác đứng lễ đều được.
Đám cưới miền Nam có lễ tơ hồng không?
Ít phổ biến hơn miền Bắc. Nhiều gia đình miền Nam có lễ lên đèn và lễ hợp cẩn trong ngày cưới, mang ý chúc phúc cho đôi vợ chồng. Lễ tơ hồng có ở một số gia đình nhưng không phải nếp chung của vùng.
Lễ vật tơ hồng sau khi cúng làm gì?
Hạ lễ sau khi hương tàn bớt, mời khách hoặc để cả nhà dùng trong bữa. Trầu cau chia cho người già. Hoa có thể để lại phòng cưới. Đồ mặn nên ăn trong ngày, không để qua đêm ngoài trời.