Rước ông bà là lễ nhiều gia đình Nam Bộ làm vào chiều 30 Tết, hoặc chiều 29 nếu tháng Chạp thiếu, để mời tổ tiên về nhà ăn Tết cùng con cháu. Mâm rước là mâm cơm mặn có những món quen của Tết miền Nam: canh khổ qua nhồi thịt, thịt kho hột vịt, dưa giá hoặc dưa cải, củ kiệu, bánh tét. Từ chiều hôm đó đến ngày đưa ông bà, nhiều nhà dâng cơm, trà, nước lên bàn thờ mỗi ngày như mời người thân đang ở trong nhà.
Ở miền Bắc, phần mời gia tiên thường nằm trong bữa tất niên; ở miền Trung có nơi làm tất niên rồi mới cúng rước. Bài này đi vào nếp rước ông bà ở Nam Bộ là chính, vì đó là nơi lễ này có tên gọi riêng và được giữ rất rõ: mâm cơm có gì, vì sao, cặp mía đặt bên bàn thờ là gì, và nhịp cúng cơm trong những ngày Tết.
Rước ông bà là gì và bắt đầu từ đâu
Trong cách nghĩ của nhiều gia đình Nam Bộ, ông bà tổ tiên được con cháu mời về nhà ăn Tết, ở lại mấy ngày đầu năm rồi mới được đưa đi. Vì thế có hai lễ đầu và cuối: rước ông bà chiều cuối năm, đưa ông bà vào mùng ba, mùng bốn hoặc ngày khác tuỳ nhà. Ở giữa là những ngày ông bà "ở chơi" với con cháu.
Việc rước thật ra bắt đầu sớm hơn chiều 30. Trong tháng Chạp, nhiều nhà đi thăm mộ, dẫy cỏ, sơn lại mộ, thắp nhang và mời ông bà về ăn Tết. Ở các vùng quê miền Tây, mộ ông bà nằm ngay trong vườn nhà nên việc này làm rất tự nhiên, cả nhà cùng ra vườn chiều hai mươi mấy tháng Chạp.
Có nhà mang theo bó hoa, đĩa trái cây nhỏ ra mộ, thắp nhang rồi đọc to tên con cháu sẽ về ăn Tết năm nay.
Ở nhiều gia đình, người con lớn hoặc người cháu đích tôn đi cùng cha ra mộ, vừa dọn cỏ vừa nghe kể chuyện ông bà ngày trước. Việc đi thăm mộ cuối năm vì thế còn là lúc chuyện nhà được truyền lại cho đời sau.
Đến chiều 30, sau khi nhà cửa đã dọn xong, bàn thờ đã lau, mâm ngũ quả và hai cây mía đã đặt đúng chỗ, gia đình dọn mâm cơm rước. Đây là bữa cơm đầu tiên của Tết, và nhiều nhà coi đó là lúc Tết thật sự bắt đầu trong nhà mình.
Lễ rước không có giờ cố định chung. Nhà buôn bán đến chiều mới đóng cửa tiệm thì rước muộn; nhà làm vườn xong việc sớm thì rước từ đầu giờ chiều. Điều được coi trọng là cả nhà có mặt, con cháu đi xa đã về kịp.
Mâm cơm rước ông bà: những món hay gặp và vì sao
Mâm rước ông bà ở Nam Bộ thường là những món ăn được trong nhiều ngày, hợp với trời nóng và với nhịp sum họp kéo dài. Bảng dưới gom các món phổ biến theo tập quán, mỗi nhà một vài món khác.
| Món | Vì sao hay có mặt | Ghi chú |
|---|---|---|
| Canh khổ qua nhồi thịt | Theo cách nói dân gian, "khổ qua" là mong cái khổ qua đi | Món canh gần như không thiếu trong mâm Tết miền Nam |
| Thịt kho hột vịt (thịt kho nước dừa) | Kho được lâu, ăn dần cả mấy ngày Tết | Nồi thịt kho thường nấu từ 28, 29 Tết |
| Dưa giá, dưa cải, củ kiệu tôm khô | Món chua giòn ăn kèm thịt kho cho đỡ ngán | Củ kiệu thường muối từ giữa tháng Chạp |
| Bánh tét | Bánh nếp của Tết phương Nam, đặt cả đòn trên bàn thờ | Mâm cơm thường có một đĩa bánh tét đã cắt khoanh |
| Chả giò, gà luộc, lạp xưởng | Món mặn thêm cho mâm đầy đủ | Tuỳ nhà, không bắt buộc |
| Cơm trắng, chén đũa, trà, rượu | Mời ông bà như mời người trong nhà ngồi ăn | Nhiều nhà bày số chén theo số vị đang thờ |
Có nhà gốc Bắc di cư vào Nam từ lâu vẫn giữ bánh chưng, giò lụa, canh măng; có nhà người Hoa thêm món riêng của quê mình. Mâm rước không có khuôn duy nhất.
Cặp mía bên bàn thờ và mấy thứ đặt từ chiều 30
Hai cây mía. Ở nhiều vùng Nam Bộ, ngày Tết người ta dựng hai cây mía còn nguyên lá ở hai bên bàn thờ. Cách giải thích hay gặp là mía làm gậy cho ông bà chống về nhà ăn Tết, hoặc làm đòn gánh gánh lễ vật khi ông bà đi. Đây là cách hiểu dân gian, mỗi nơi kể hơi khác nhau.
Mâm ngũ quả. Đặt giữa bàn thờ hoặc một bên, thường đã bày từ 28, 29 Tết. Mâm ngũ quả miền Nam có cách chọn quả riêng theo lối chơi chữ, có bài riêng.
Bình bông. Mai vàng, vạn thọ, cúc là những loại hoa hay gặp trên bàn thờ Tết miền Nam. Bình bông đặt một bên, mâm quả một bên.
Đèn và nhang. Nhiều nhà giữ đèn bàn thờ sáng suốt mấy ngày Tết. Ngày nay đèn điện thay cho đèn dầu, an toàn hơn khi cả nhà đi chúc Tết.
Đòn bánh tét. Một cặp bánh tét buộc lại thành đòn, đặt trên bàn thờ từ chiều 30 đến ngày đưa ông bà.
Nhịp cúng cơm trong những ngày ông bà "ở lại"
Từ sau lễ rước đến ngày đưa, nhiều gia đình Nam Bộ dâng cơm lên bàn thờ mỗi ngày, có nhà hai bữa sáng chiều, có nhà một bữa trưa. Mâm cơm hằng ngày không cần đầy như mâm rước, thường là một phần của chính bữa ăn cả nhà: vài món đang có trong nhà, chén cơm, đôi đũa, ly trà.
Nhà nào không tiện dâng cơm thì giữ ít nhất phần nhang đèn, trà nước. Buổi sáng thay nước, rót trà mới, thắp nhang; buổi tối thắp nhang lần nữa. Ở nhiều nhà, việc này do ông, bà hoặc người mẹ làm, con cháu đứng sau chắp tay.
Ý của việc dâng cơm hằng ngày là đối xử với ông bà như người đang ở trong nhà: ăn cùng bữa, uống cùng ấm trà. Vì thế món dâng thường là món cả nhà đang ăn, không cần nấu riêng. Khi nhà đi chúc Tết cả ngày, nhiều người dâng cơm buổi sáng trước khi đi, chiều về thắp nhang.
Khi có khách đến chúc Tết, nhiều chủ nhà mời khách thắp một nén nhang lên bàn thờ trước khi ngồi uống trà. Đó cũng là cách giới thiệu ông bà với người đến nhà trong những ngày ông bà đang "ở lại".
Trong mấy ngày này, nhiều gia đình cũng kiêng nói chuyện buồn, cãi vã trước bàn thờ, coi như giữ không khí vui cho cả người sống và người được mời về.
Chuẩn bị mâm rước cho nhà ở thành phố
Gia đình trẻ ở Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ hay Biên Hoà thường vừa đi làm đến 28, 29 Tết vừa lo mâm rước. Có thể sắp xếp như sau.
- Giữa tháng Chạp: muối củ kiệu, mua hoặc đặt bánh tét, hẹn người nhà ngày đi thăm mộ nếu mộ ở quê.
- Ngày 28: kho nồi thịt hột vịt, để nguội cất tủ lạnh; mua khổ qua, giá, cải để làm dưa.
- Ngày 29: làm dưa giá, nhồi khổ qua; lau bàn thờ, thay nước, cắm bông, bày mâm ngũ quả, dựng hai cây mía.
- Chiều 30: nấu canh khổ qua, hâm thịt kho, cắt bánh tét, dọn mâm, thắp nhang mời ông bà về ăn Tết.
- Những ngày sau: mỗi sáng thay nước, rót trà, thắp nhang; dâng cơm theo nếp nhà; giữ đèn bàn thờ bằng đèn điện.
Nồi thịt kho và canh khổ qua là hai món nhiều nhà nấu một lần ăn cả mấy ngày. Nhớ đun sôi lại mỗi ngày, múc riêng phần dâng lên bàn thờ ra chén nhỏ, không để nồi lớn trên bếp nguội qua đêm khi trời nóng.
Ở miền Bắc, miền Trung: cùng ý, khác tên và khác lúc
Ở đồng bằng Bắc Bộ, ít nhà dùng chữ "rước ông bà". Phần mời gia tiên về ăn Tết thường nằm trong mâm tất niên chiều 30: người chủ lễ khấn báo năm cũ đã qua và kính mời tổ tiên về cùng con cháu đón năm mới. Nhiều làng còn có tục ra mộ thắp hương "mời ông bà về ăn Tết" từ chiều 30 hoặc mấy ngày trước.
Ở Huế và nhiều tỉnh miền Trung, có nhà cúng tất niên trước, đến chiều 30 mới làm lễ rước ông bà, hoặc gộp hai việc trong một mâm. Mâm cúng miền Trung có những món riêng như nem chua, tré, dưa món, bánh tét nhân đậu xanh; nhiều gia đình Huế còn giữ mâm chay trong một số bữa Tết.
Cái giống nhau giữa các vùng là ý mời người đã khuất về sum họp, rồi tiễn đi khi Tết hết. Cái khác là tên gọi, thời điểm và các món trên mâm. Người miền Bắc lấy vợ, chồng miền Nam, hay con cháu sinh ra ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng gốc Nghệ An, thường giữ nếp của bên nào đang thờ ông bà; hai bên hỏi nhau từ trước Tết là đỡ bỡ ngỡ nhất.
Người con ở xa, ở nước ngoài giữ lễ rước thế nào
Nhiều người con miền Tây sống ở Hà Nội, ở nước ngoài, Tết không về được. Có người vẫn làm một mâm rước nhỏ ở nơi mình ở: chén cơm, nồi thịt kho, tô canh khổ qua, ly trà, bình hoa, đúng giờ chiều 30 theo giờ quê nhà hoặc theo giờ nơi mình sống. Cách tính giờ khi ở nước ngoài, mỗi người chọn một cách cho hợp.
Không có bàn thờ, nhiều người đặt tấm ảnh ông bà trên kệ sạch, thắp nến điện hoặc nhang nếu nhà cho phép. Ở nhiều nơi tại nước ngoài, căn hộ có báo khói rất nhạy; thắp một nén nhang ngắn gần cửa sổ, hoặc chỉ dâng hoa, trà và cúi đầu cũng được nhiều người chọn.
Ở quê, cha mẹ vẫn làm lễ rước ở bàn thờ chính. Một cuộc gọi video đúng lúc thắp nhang để người con ở xa cùng chắp tay đã trở thành nếp mới của rất nhiều gia đình. Lễ vẫn là lễ của cả nhà, chỉ khác là có người đứng ở một màn hình nhỏ.
Câu hỏi thường gặp
Rước ông bà ngày Tết làm vào lúc nào?
Phần đông gia đình Nam Bộ rước ông bà vào chiều 30 Tết, hoặc chiều 29 nếu tháng Chạp thiếu. Không có giờ cố định chung; nhiều nhà chọn lúc cả nhà đã về đủ và việc nhà đã xong.
Vì sao bàn thờ ngày Tết ở miền Nam có hai cây mía?
Theo cách giải thích dân gian ở nhiều vùng Nam Bộ, hai cây mía là gậy cho ông bà chống về ăn Tết hoặc đòn gánh để gánh lễ vật khi đi. Mỗi nơi kể hơi khác, và không phải nhà nào cũng có tục này.
Mâm cơm rước ông bà gồm những món gì?
Hay gặp canh khổ qua nhồi thịt, thịt kho hột vịt, dưa giá hoặc dưa cải, củ kiệu, bánh tét, có nhà thêm chả giò, gà luộc, cùng cơm, trà, rượu. Mỗi nhà chọn vài món theo nếp riêng.
Ngày Tết có phải dâng cơm cho ông bà mỗi ngày không?
Nhiều nhà dâng cơm mỗi ngày từ lễ rước đến ngày đưa ông bà, có nhà hai bữa, có nhà một bữa. Nhà không tiện thì giữ nhang đèn, trà nước mỗi sáng tối. Không có quy định bắt buộc.
Ở nước ngoài không có bàn thờ thì rước ông bà thế nào?
Nhiều người đặt ảnh ông bà trên kệ sạch, dọn chén cơm, ly trà, bình hoa, thắp nến điện hoặc một nén nhang ngắn nếu nơi ở cho phép. Gọi video về quê đúng lúc cha mẹ thắp nhang cũng là cách cùng có mặt.
Thịt kho, canh khổ qua để mấy ngày Tết cần lưu ý gì?
Đun sôi lại mỗi ngày, múc riêng phần dâng lên bàn thờ ra chén nhỏ, không để nồi nguội qua đêm ngoài bếp khi trời nóng. Món có mùi chua lạ hoặc nhớt thì bỏ.